Phản bác lập luận của bên kia là chỉ ra một cách cụ thể chỗ lập luận đó không đứng được: mâu thuẫn với chính lời họ, mâu thuẫn với chứng cứ, thiếu chứng cứ, hoặc suy ra một kết luận mà tình tiết không đủ để suy. Phủ nhận chung chung kiểu "bên kia nói sai hết" không phải là phản bác, và hội đồng xét xử thường không ghi nhận nó.
Lập luận chính của bên kia hiếm khi là điều bất ngờ: nó đã nằm sẵn trong bản tự khai, văn bản ý kiến, biên bản lấy lời khai và biên bản các phiên họp trước. Bài này hướng dẫn cách đọc những tài liệu đó trước phiên để tìm lỗ hổng, sáu kiểu lỗ hổng hay gặp, và cách đưa phần phản bác vào bài tranh luận mà không biến nó thành cuộc công kích.
Phản bác khác phủ nhận ở chỗ nào
Phủ nhận là nói "không đúng". Phản bác là nói "không đúng, vì tài liệu này cho thấy điều khác, và đây là chỗ nó nằm trong hồ sơ". Sự khác biệt nằm ở phần "vì". Hội đồng xét xử phải ra phán quyết dựa trên chứng cứ, nên một lời phủ nhận không kèm căn cứ gần như không có tác dụng, còn một lời phản bác chỉ ra được mâu thuẫn cụ thể có thể làm lung lay cả một yêu cầu.
Phản bác tốt cũng có tính chọn lọc. Không phải mọi điều bên kia nói đều sai, và không phải điều sai nào cũng quan trọng. Một đương sự phản bác cả những chi tiết vụn vặt, như bên kia nhớ nhầm giờ hẹn gặp từ chín giờ thành mười giờ, sẽ làm loãng những điểm phản bác thật sự có giá trị. Câu hỏi để chọn là: nếu điểm này của bên kia được chấp nhận, kết quả vụ án có thay đổi không. Nếu không, có thể bỏ qua.
Cuối cùng, phản bác nhắm vào lập luận, không nhắm vào con người. "Lời khai ngày 3 và lời khai ngày 20 của bị đơn mâu thuẫn nhau về số tiền" là phản bác. "Bị đơn là người không trung thực" là nhận xét cá nhân; nó không thêm chứng cứ nào và dễ khiến hội đồng thấy bạn thiếu khách quan.
Đọc hồ sơ để tìm lỗ hổng trước phiên
Đương sự có quyền được tiếp cận, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án theo quy định, trừ những tài liệu bị hạn chế công khai. Khi đã có trong tay các văn bản của bên kia, cách đọc có hệ thống như sau:
- Gom mọi văn bản thể hiện ý kiến của bên kia: bản tự khai, văn bản ý kiến, biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải, đơn phản tố nếu có.
- Xếp chúng theo ngày, từ cũ đến mới.
- Kẻ một bảng với mỗi hàng là một tình tiết đang tranh chấp (số tiền, ngày giao, ai ký, ai hứa gì), mỗi cột là một văn bản.
- Điền vào từng ô điều bên kia nói về tình tiết đó trong văn bản tương ứng.
- Đánh dấu những hàng mà các ô không giống nhau: đó là chỗ lời bên kia thay đổi theo thời gian.
- Thêm một cột cuối ghi chứng cứ độc lập (sao kê, hợp đồng, biên bản của bên thứ ba) về cùng tình tiết, rồi đánh dấu chỗ lời bên kia lệch với chứng cứ đó.
Bảng này thường lộ ra nhiều điều hơn việc đọc lướt từng văn bản. Lời khai thay đổi không tự động có nghĩa là gian dối, vì người ta có thể nhớ nhầm rồi đính chính; nhưng một sự thay đổi lớn về tình tiết then chốt mà không có giải thích là điểm đáng nêu ra tại phiên. Trong lúc làm bảng, bạn nên áp dụng cùng phép thử cho văn bản của chính mình để biết bên kia có thể bắt bẻ chỗ nào.
Sáu kiểu lỗ hổng thường gặp
Mâu thuẫn với chính mình. Bên kia nói một đằng ở bản tự khai, một nẻo ở phiên hoà giải hoặc tại phiên xử. Ví dụ, lúc đầu nói khoản tiền là tiền góp vốn, sau lại nói là tiền cho mượn.
Mâu thuẫn với chứng cứ độc lập. Lời bên kia không khớp với tài liệu do bên thứ ba lập, như sao kê ngân hàng, hoá đơn, biên bản của cơ quan có thẩm quyền. Chứng cứ độc lập thường được đánh giá cao hơn lời một bên.
Khẳng định không có chứng cứ. Bên kia nêu một tình tiết quan trọng nhưng hồ sơ không có tài liệu nào chứng minh. Theo nguyên tắc chung, bên đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu thì phải chứng minh, trừ những tình tiết không cần chứng minh theo quy định.
Suy diễn quá đà. Từ một tình tiết đúng, bên kia rút ra kết luận lớn hơn mức tình tiết cho phép. Việc bạn có nhận một khoản tiền không tự nó chứng minh khoản tiền đó là tiền vay.
Áp dụng sai thoả thuận hoặc quy định. Bên kia dẫn một điều khoản hợp đồng nhưng đọc thiếu phần điều kiện, hoặc dẫn một quy định không áp dụng cho loại quan hệ đang tranh chấp.
Con số không khớp. Tổng các khoản bên kia liệt kê không bằng con số họ yêu cầu, hoặc cách tính lãi, tính thời gian không nhất quán. Lỗi con số dễ kiểm tra và dễ thuyết phục nhất.
Từ lỗ hổng đến câu nói tại phiên
Bảng dưới là các ví dụ giả định về cách biến một lỗ hổng đã tìm thấy thành câu phản bác ngắn trong phần tranh luận:
| Kiểu lỗ hổng | Ví dụ giả định | Câu phản bác gợi ý |
|---|---|---|
| Mâu thuẫn với chính mình | Bị đơn khai hai số tiền khác nhau ở hai lần | "Về số tiền, bị đơn khai 200 triệu tại bản tự khai và 150 triệu tại phiên hoà giải, chưa giải thích sự khác nhau." |
| Mâu thuẫn với chứng cứ | Nguyên đơn nói giao hàng ngày 5, phiếu vận chuyển ghi ngày 12 | "Phiếu vận chuyển do bên thứ ba lập ghi ngày giao là ngày 12, không phải ngày 5." |
| Không có chứng cứ | Bên kia nói đã trả bằng tiền mặt | "Hồ sơ không có giấy nhận tiền hay tài liệu nào thể hiện khoản trả tiền mặt này." |
| Suy diễn quá đà | Từ việc ở chung nhà suy ra cùng đứng tên tài sản | "Việc cùng sinh sống không thể hiện thoả thuận về quyền sở hữu tài sản." |
| Con số không khớp | Bảng kê năm khoản cộng lại thiếu so với yêu cầu | "Năm khoản bên kia liệt kê cộng lại thấp hơn số tiền yêu cầu, phần chênh lệch chưa được giải thích." |
Các câu gợi ý đều có điểm chung: nêu sự việc, nêu chứng cứ hoặc sự thiếu chứng cứ, không kèm tính từ. Bạn để hội đồng tự rút ra kết luận về độ tin cậy. Cách nói này cũng an toàn hơn cho bạn, vì nếu bên kia có lời giải thích hợp lý, bạn không bị rơi vào thế đã buộc tội họ gian dối.
Nghĩa vụ chứng minh: dùng đúng nguyên tắc để phản bác
Một nguyên tắc nền của tố tụng dân sự là đương sự đưa ra yêu cầu thì có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh yêu cầu đó có căn cứ; bên phản đối yêu cầu cũng phải chứng minh sự phản đối của mình. Có những tình tiết không cần chứng minh, như tình tiết đã được bên kia thừa nhận rõ ràng hoặc những sự kiện mà mọi người đều biết theo quy định.
Nguyên tắc này cho bạn một công cụ phản bác mạnh mà không cần chứng minh điều ngược lại. Khi bên kia khẳng định một tình tiết có lợi cho họ mà không có chứng cứ, bạn chỉ cần chỉ ra rằng tình tiết đó chưa được chứng minh. Ví dụ giả định: trong vụ chia tài sản sau ly hôn ở Cần Thơ, một bên khẳng định chiếc xe được bố mẹ mình cho riêng. Bên kia không cần chứng minh xe là tài sản chung bằng mọi giá; chỉ cần nêu rằng hồ sơ không có giấy tờ tặng cho riêng, trong khi xe được mua trong thời kỳ hôn nhân.
Cần thận trọng: nguyên tắc chứng minh và các ngoại lệ của nó khá chi tiết, có những trường hợp pháp luật đặt ra suy đoán khác. Bạn nên dùng nguyên tắc này như một hướng lập luận, nêu bằng lời thường, và để hội đồng áp dụng, thay vì khẳng định chắc chắn rằng bên kia "thua vì không chứng minh được".
Đừng phản bác quá tay
Phản bác hiệu quả cần biết dừng. Những dấu hiệu bạn đang đi quá đà:
- Phản bác cả những tình tiết chính bạn đã thừa nhận ở phần hỏi, khiến lời mình mâu thuẫn với mình.
- Dành phần lớn thời gian cho các chi tiết không ảnh hưởng tới yêu cầu.
- Gán động cơ xấu cho bên kia khi chưa có chứng cứ.
- Dùng giọng mỉa mai, cười cợt khi chỉ ra lỗi của bên kia.
- Phản bác cả ý kiến của người làm chứng trung lập chỉ vì lời họ không có lợi cho bạn, mà không có căn cứ cụ thể.
Hội đồng xét xử đánh giá độ tin cậy của mỗi bên qua toàn bộ cách trình bày. Một đương sự chừng mực, thừa nhận điều đúng và chỉ ra điều sai bằng chứng cứ thường được lắng nghe kỹ hơn. Bạn không cần thắng từng câu; bạn cần những điểm quyết định được nhìn nhận đúng.
Gói phần phản bác vào bài tranh luận
Có hai cách sắp xếp. Cách thứ nhất là trình bày các luận điểm của mình trước, rồi dành một phần riêng cho ý kiến về lập luận của bên kia. Cách này hợp khi bạn là nguyên đơn, nói trước, và lập luận của mình đủ mạnh để đứng độc lập. Cách thứ hai là lồng phản bác vào từng luận điểm: nêu điểm của mình, rồi chỉ ra vì sao cách nhìn ngược lại của bên kia không đứng được. Cách này hợp khi bạn là bị đơn và cả vụ xoay quanh việc đáp lại yêu cầu của nguyên đơn.
Dù chọn cách nào, mỗi điểm phản bác nên được nói theo cùng một khuôn để hội đồng dễ theo: bên kia cho rằng điều gì; điều đó không đúng hoặc chưa đủ ở chỗ nào; chứng cứ nào cho thấy; hệ quả với yêu cầu. Nếu có từ ba điểm phản bác trở lên, hãy báo trước số lượng ("Có ba điểm trong lập luận của phía nguyên đơn cần được làm rõ") để người nghe biết khi nào bạn nói xong.
Phần lập luận mới mà bên kia đưa ra ngay tại phiên thì xử lý ở lượt đối đáp. Phần lớn công việc phản bác, như bài này mô tả, nên được làm xong từ trước khi bước vào phòng xử.
Câu hỏi thường gặp
Lời khai của bên kia thay đổi qua các lần có phải là bằng chứng họ nói dối không?
Không tự động như vậy. Người ta có thể nhớ nhầm rồi đính chính. Nhưng nếu tình tiết then chốt thay đổi lớn mà không có giải thích, bạn nên chỉ ra sự thay đổi đó tại phiên và để hội đồng đánh giá độ tin cậy, không cần tự kết luận bên kia gian dối.
Mình có được xem bản tự khai của bên kia không?
Đương sự có quyền được tiếp cận, ghi chép, sao chụp tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án theo quy định, trừ những trường hợp hạn chế công khai. Bạn liên hệ thẩm phán hoặc thư ký phụ trách vụ án để biết cách thực hiện cụ thể.
Nếu bên kia không có chứng cứ thì mình có thắng không?
Không chắc chắn. Việc bên kia thiếu chứng cứ cho một tình tiết giúp lập luận của bạn ở điểm đó, nhưng kết quả vụ án còn phụ thuộc vào toàn bộ chứng cứ, quy định áp dụng và đánh giá của hội đồng xét xử. Không ai hứa trước được kết quả.
Có nên phản bác lời người làm chứng không?
Chỉ khi có căn cứ cụ thể, như lời của họ mâu thuẫn với tài liệu khác, họ không trực tiếp chứng kiến, hoặc họ có quan hệ lợi ích với một bên. Nêu căn cứ đó một cách trung tính, không công kích cá nhân người làm chứng.
Phản bác nhiều điểm hay ít điểm thì tốt hơn?
Ít điểm mà trúng thường tốt hơn. Hãy chọn những điểm mà nếu được chấp nhận thì kết quả vụ án thay đổi, thường là hai đến bốn điểm. Các chi tiết nhỏ có thể ghi vào bản trình bày bằng văn bản thay vì nói hết tại phiên.
Mình cũng có chỗ lời khai không nhất quán thì làm sao?
Nên chủ động giải thích ngắn trong phần trình bày của mình, nêu lý do thay đổi và chứng cứ nếu có. Tự nói ra trước thường tốt hơn để bên kia phát hiện và khai thác. Tuyệt đối không sửa lời khai theo hướng trái sự thật.